Thứ hai, 09/12/2019 - 12:09|
Chào mừng đến vơi Website của Trường Mầm non Sao Mai- Thành phố Bắc Giang

sưu tầm truyện kể, thơ, hò, vè, câu đố, trò chơi của dân tộc thiểu số

thực hiện đề án tăng cường tiếng việt cho trẻ Mầm non

MƯU CON THỎ

- Truyện cổ Chăm-

 

Một ngày kia, Thỏ từ núi đi xuống làng định kiếm gì vào bụng. Mặt trời đã lên khá cao, Thỏ ta đói lả. Chợt mắt nó sáng lên khi nhìn thấy từ xa một phụ nữ đi chợ về. Thỏ liền tới nằm ngay giữa đường mòn và đợi.

- A! Một con Thỏ bị ngất, người phụ nữ la lên. Thỏ nín thở cho đến khi người nó được đặt an toàn vào thúng đầy những bánh trái. Thỏ từ từ ăn no nê rồi nhảy phốc xuống.

– Cám ơn nhé! Thỏ nói. Người phụ nữ giật mình quay lại thì Thỏ đã chạy xa. Chị hiểu ra câu chuyện liền ngồi sụp xuống và ôm mặt khóc than:

– Trời đất ơi! Ông Lý, quà cho ông Lý… Ông Lý sẽ bắt tội tôi, trời đất…

Thỏ rón rén quay lại và hỏi :

– Chị có chuyện gì buồn phải không? Nói cho tôi nghe, biết đâu tôi giúp được chị.

Người phụ nữ vừa sụt sùi vừa kể sự tình: Chồng tôi ở đợ cho phú ông nọ, năm năm mới được chia hai con trâu cái. Lúc tách chuồng, ông có gởi cho nhà tôi nuôi một cặp trâu xe của ông. Hai năm sau, trâu cái nhà tôi đẻ con nhưng kẻ tham lam kia khi bắt trâu về đã dắt theo cả hai con nghé và bảo là trâu nhà ông đẻ. Toà sắp mở phiên xử ngày mai, tôi không biết tính sao nên mới đong ít gạo ra chợ đổi ít bánh trái nhờ ông Lý giúp.

Trời ơi, khổ thân tôi quá !

Nghe thế, Thỏ lại gần tìm lời an ủi chị:

– Thôi, chị đừng khóc nữa. Hãy để đấy, tôi sẽ cãi được, chị đừng lo.
Sáng hôm sau, mọi nóng lòng chờ thầy cãi bên nguyên. Khi ông Lý sắp tuyên bố hoãn xử án thì Thỏ bước vào, dáng bước khúm núm, ẻo lả, miệng mếu máo :

– Xin lỗi cụ Lý. Xin lỗi chư vị … tôi đã quá muộn …để chư vị phải chờ… Ngặt vì chuyện sống chết … Thỏ ngập ngừng, đưa mắt nhìn quanh.

– Chuyện sống chết gì nói đi, ông Lý quát lớn

– Thưa vì tôi vừa lo cho cha vừa đẻ, nên…

– Mày dám giỡn toà sao? Cha mày là đàn ông mà lại đẻ con à?

– Thế con trâu đực phú ông kia đã đẻ con được, lão cũng giỡn mặt tòa chắc!?

Thỏ nhanh nhảu.

Ông Lý trố mắt nhìn Thỏ, rồi ngó xung quanh. Ông “à” một tiếng rõ to. Ông phán bãi tòa và cho vợ chồng nông dân được kiện.

Lão phú nông bị Thỏ chơi khăm, uất lắm. Ông cho chúa sơn lâm đuổi bắt Thỏ khắp hang cùng ngõ hẻm. Một hôm, Thỏ bị đuổi cùng đường, chẳng may té giếng nước cạn.

– Mày lên đây mà nộp mạng cho ông. Cọp nói.

Thỏ ngẩng lên, bất chợt nó nhìn thấy từng cụm mây đen bay ngang trời, nó kêu lên :

– Ôi Ông Cọp ơi! Nhanh lên, trời sắp sập kìa.

Cọp hoảng hồn, nhìn theo hướng Thỏ chỉ:

– Làm sao đây, Thỏ ơi? Cứu tôi với!

– Mau tìm cây gậy ném xuống cho tôi chống trời rồi nhảy xuống đây cùng trú.

Cọp tìm được gậy đưa cho Thỏ. Trong lúc Cọp loay hoay bám từng bật thang giếng đi xuống thì Thỏ dùng gậy thọc đít Cọp. Đau quá, Cọp nhảy bừa xuống rồi nắm lấy cẳng Thỏ quăng ra khỏi giếng:

– Cho trời đè nát xát mày ra!

– Thôi Ông ở lại mạnh giỏi nhé, Thỏ cười rồi nói lời từ biệt, đi một mạch vào làng.

Lúc đó ở nhà phú nông đang bày tiệc chuẩn bị đãi quan thì nghe tiếng Thỏ ở ngoài ngõ vọng vào :

– Ông Cọp té giếng, Cọp té giếng, bà con ơi!

Mọi người chạy ùa đi xem. Thế là Thỏ lững thững đi vào nhà phú nông đánh chén một bữa ngon lành.

 

GƯƠM CHÉM THUỒNG LUỒNG SUỐI RỒNG

(Truyện cổ dân gian Thái)

Ngày xửa ngày xưa con trai út của vua Then và nàng xao con gái út của một vị xen cha[1]ở trên mường bun (tiên giới) thương yêu nhau tha thiết. Nhưng khi chàng còn chưa kịp nhờ người mai mối tới dạm hỏi thì nàng đã bị con trai của vua thuồng luồng cướp đem về làm vợ. Chàng út đi xuống mường lúm (trần gian) để tìm nàng. Chàng đi mãi khắp mọi nơi hang cùng ngõ hẻm mà vẫn không thể nào tìm được nàng.

Một buổi đang lang thang ở trong rừng chàng út bỗng tình cờ gặp một vị xen cha đang cưỡi ngựa đi săn. Nhìn thấy bộ dạng chàng thảm hại thểu não vì mãi vẫn chưa tìm được người yêu nên xen cha mới xuống ngựa để hỏi thăm. Chàng út kể cho xen cha nghe chuyện. Thương tình xen cha liền đưa cho chàng một thanh gươm và dặn bao giờ chàng mài sắc được thanh gươm này thì sẽ tìm lại được nàng xao út.

Chàng út cầm thanh gươm đi tìm chỗ mài đợi ngày báo thù thuồng luồng đã cướp mất người yêu. Chàng đi cho đến khi gặp một bản nhỏ nằm cạnh con suối tá xi[2] (Suối Rồng) thì dừng lại ở nơi này để mài gươm. Chàng mài từ khi còn là một thanh niên cường tráng cho tới khi trở thành ông lão râu dài tóc bạc mà thanh gươm vẫn cùn chưa sắc. Không hề nản ngày nào cũng như ngày nào chàng út lúc này đã là ông lão cứ bắt đầu vào lúc mặt trời mọc là lại cầm gươm ra ngồi mài ở bến suối tá xi. Nếu có ai hỏi ông mài gươm làm gì thì ông nói là mài gươm để đến mùa thi còn đem đi thi chém. Nhưng rồi mặc cho tháng trôi năm qua mọi người vẫn chẳng thấy ông mang gươm đi thi thố ở đâu cả mà chỉ thấy ngày ngày ông đem gươm ra cặm cụi mài ở ngoài bờ suối. Dân bản chứng kiến cái chuyện kỳ dị này mãi rồi cũng quen họ mặc kệ ông ngồi mài không ai hỏi đả động gì đến ông nữa.

Thế rồi một hôm có một đám buôn lớn đi qua chỗ ông lão đang ngồi mài gươm. Nhìn thấy thanh gươm sáng loáng đẹp quá họ bèn nằn nỉ gạ hỏi mua với ông và trả giá cực cao. Nhưng nói thế nào thì ông lão vẫn cũng cứ lắc đầu từ chối không bán. Họ hỏi lý do tại sao ông không muốn bán thanh gươm.

Ông lão thủng thẳng đáp:

- Gươm này còn dùng để chém thuồng luồng suối tá xi!

Đám lái buôn đành ngao ngán thất vọng bỏ đi. Nhưng câu nói của ông lão thì đã bị bầy cá nghe thấy. Chúng liền đem tâu lại với vua thuồng luồng cai quản con suối tá xi. Vua thuồng luồng tức quá mới lên bờ và hoá thành một cụ già lưng còng chống gậy tới gặp người ông lão mài gươm.

Ban đầu vua thuồng luồng giả vờ ngỏ ý hỏi mua thanh gươm. Ông lão từ chối không bán. Vua thuồng luồng hỏi tiếp:

- Vậy thanh gươm này ông định dùng để làm gì?

Ông lão đáp:

- Gươm ta dùng để đi thi chém thứ gì cũng chém con gì cũng chém cái gì trôi qua trước mặt là chém! Và chém chỉ một nhát là đứt!

Vua thuồng luồng lại hỏi:

- Thế thần thuồng luồng ở dưới nước ông có chém được không?

Ông lão khẳng định:

- Chém được tất! Nếu chém một nhát mà không đứt thì ta sẽ chịu mất thanh gươm này.

Thế rồi ông lão vừa ngồi mài gươm vừa hát nghêu ngao:

"Gươm lưỡi thiêng ta mài từ thưở nhỏ

"Mài cho đến già để chém thuồng luồng tá xi

"Cho tới mùa thi lưỡi gươm thật sắc bén

"Già này sẽ đem chém thuồng luồng tá xi![3]"

Nghe ông lão nghêu ngao hát vậy vua thuồng luồng giật mình trong lòng dạ của cảm thấy không yên bởi sợ sau này có lúc ông lão sẽ mang gươm đi chém họ hàng thuồng luồng sống ở dưới nước. Vua thuồng luồng bèn đánh cược với ông lão nếu ông không chém chết được thuồng luồng tá xi thì sẽ phải chịu mất thanh gươm của xen cha.

Vì lúc nãy đã chót nói mạnh nên ông lão đành phải đồng ý và hẹn ngày đánh cược. Sau khi vua thuồng luồng đi rồi nhìn lưỡi của thanh gươm vẫn còn cùn lòng dạ buồn rười rượi nên ông lão bật ra những tiếng than thở. Đúng lúc này thì có một con rái cá chạy qua. Nhìn thấy ông lão buồn bã thở dài rái cá cất tiếng hỏi:

- Tại sao ông lại buồn đến như vậy?

Ông lão đem chuyện kể cho rái cá nghe. Rái cá bèn bảo ông:

- Khó gì đâu! Muốn lưỡi gươm sắc thì trong khi mài ông hãy khóc và nhỏ những giọt nước mắt của ông vào đó.

Ông lão làm theo đúng như lời của rái cá không ngờ rằng lưỡi gươm đã nhanh chóng trở nên sắc bén. Và để cho thanh gươm sắc bén hơn nữa hôm nào ông cũng vẫn mang gươm ra bờ suối mài và thấp thỏm chờ mong đến ngày hẹn.

Sắp tới ngày hẹn vua thuồng luồng lại hoá thành người tìm đến gặp ông lão. Vua thuồng luồng hỏi thăm dò:

- Ông định làm thế nào để chém chết thuồng luồng?

Đoán biết đó chính là vua thuồng luồng hoá thành người để dò hỏi ông lão tỉnh bơ đáp lại:

- Cho dù thuồng luồng hoá thành bất cứ con vật gì hay là các loại gỗ gì thì lão cũng chỉ chém một nhát là đứt. Chỉ khi nào thuồng luồng hoá thành cây chuối rừng thì lão mới chịu không thể chém đứt được!

Vua thuồng luồng không tin nên tìm cách thử ông lão. Vua cho quân hoá thành con chim dữ bay đến mổ ông lão. Ông chém một nhát đứt đôi con chim. Vua lại cho quân hoá thành thân cây chuối rừng trôi qua trước mặt ông lão. Ông bỏ qua không chém. Thấy mọi điều đúng như ông lão đã nói vua thuồng luồng yên tâm trở về mường nước.

Đến ngày hẹn ông lão cầm gươm ra đứng đợi sẵn ở bên bờ suối. Họ hàng thuồng luồng tất cả đều hoá thành cây chuối rừng cứ thế lững thững trôi qua trước mặt ông lão. Ông không dám chém vì sợ chém nhầm phải cả người yêu. Bối rối quá ông lão ôm đầu rồi ngửa mặt lên trời than kêu Vua Then giúp đỡ. Vua Then bèn hoá thành một con diều hâu bay xuống giúp con trai. Diều hâu bảo:

- Thân cây chuối nào mà ta bay tới đậu thì đó chính là nàng xao út! Đừng có chém phải!

Không sợ nhầm nữa vậy là ông lão vung gươm chém lia lịa vào thân các cây chuối trôi qua trước mặt. Nhưng chém đã mỏi tay mà vẫn chẳng thấy diều hâu đậu xuống đâu cả nên ông lão rất sốt ruột. Ông vừa chém vừa ngóng nhìn lên bầu trời để tìm bóng diều hâu. Bỗng dưng từ giữa không trung nổ ầm vang một hồi sấm bầu trời tối sầm lại. Rồi từ phía thượng nguồn lừng lững trôi xuống một bè chuối trên bè có một con nôộc cháu phạ (chim thiên nga) đang đậu. Đúng lúc này chim diều hâu bất thình lình xuất hiện nó lao xuống cắp chặt lấy nôộc cháu phạ rồi bay vút lên trời.

Đoán biết được là người yêu đã được diều hâu cứu thoát đem trở về mường bun nên ông lão yên tâm ra sức chém chết hết số thuồng luồng còn lại. Sau đó ông ném thanh gươm vào rừng trả lại cho xen cha rồi lập tức bay theo một ngọn gió để trở về trên mường bun.

Trở về đến mường bun thì ông lão thấy đám cưới cho mình và nàng xao út đã được chuẩn bị chu đáo đâu vào đấy. Mọi người chỉ còn đợi ông lão về tới nơi là bắt đầu cuộc vui. Đám cưới diễn ra linh đình ai ai cũng chúc phúc cho hai người dù cho nay đã tóc bạc da mồi nhưng được ở bên nhau như hằng mong ước.

Sau đám cưới hai người không ở lại sống cùng với vua Then. Mà họ hai mái đầu bạc cùng nắm tay nhau biến thành đám mây trắng bay lang thang nay đây mai đó khắp mọi nơi nhàn du rong chơi ngắm nhìn thiên hạ.

Người mường lúm thấy vậy mới đặt thơ hát về họ:

"Đời người tựa như mây trắng bay

"Nắm tay nhau rong chơi khắp bản mường

"Khi trời nắng ta hoá mây che đầu cho mẹ

"Làm bóng mây râm che mát cho mẹ yêu!"[4].

 
 

 

 

 

[1] Xen cha: Là từ mà người Thái dùng để chỉ chung các vị thần tiên.

[2] Theo lịch cổ của người Thái thì chi xi đứng tinh con rồng tương tự như chi thìn ở trong lịch Can Chi. Bởi vậy tá xi cũng có thể được hiểu là Suối Rồng. Song lại có người hiểu từ xi theo nghĩa kỳ rửa vậy cho nên giải thích tá xi có nghĩa là con suối để kỳ rửa tắm giặt. Tuy nhiên tác giả biên soạn nghiêng về cách giải thích xi là rồng bởi thấy cách giải thích này hay và phù hợp với nội dung câu chuyện hơn.

[3] Nguyên văn phiên âm tiếng Thái: "Đáp cặm lợm lặp chợ mớ nọi/ Khỏi thảu vạy phặn ngợ tá xi/ Họt mộ pí đáp lặp chắng khảu/ Thảu mạ lọ phặn ngợ tá xi!".

[4] Nguyên văn phiên âm tiếng Thái: "Chố cụn pin vả mók khao/ Chung khen căn cá mợng ỉn dú/ Phạ đét họn chí dú hẳư mé ý lả hủm hô/ Chợ bơn mộ hẳư mé ý pẹng dú din".

 

 

Sự tích con chẫu chàng
(Dân tộc Thái)

 

Xưa có một gia đình không biết cách làm ăn nên suốt đời túng thiếu. Mặt khác, không biết cách dạy con, thường để chúng chơi bời lêu lổng nên khi hai vợ chồng chết đi để lại cho hai đứa con trai một gia tài rỗng tuếch, chỉ có một con dao cùn để sống. Thằng em còn nhỏ chưa biết gì đã đành, thằng anh đã vào tuổi thanh niên nhưng thích lêu lổng hơn thích làm, lại thêm tính tham lam, ích kỷ.
Bố mẹ chết đi, thóc chỉ vừa đủ ăn vài ngày. Người anh nói với em:
- Ta phải đi khỏi làng nghèo khó này, tìm đến xứ nào giàu có hơn, may ra anh em ta sống được.

Thế là một con dao cùn duy nhất người anh giắt lấy vào lưng và xăm xăm đi trước, mặc cho em lầm lủi chạy theo sau. Vừa đi người anh vừa nghĩ. “Bố mẹ chỉ để lại cho ta một con dao cùn, mà bắt ta phải nuôi cả một đứa em!”. Điều đó làm anh ta hậm hực hơn là tình máu mủ ruột thịt. Thỉnh thoảng anh ta quay lại gắt đứa em tội nghiệp. Đến bữa anh ta véo cho em một nắm xôi bằng quả trứng bảo em vừa ăn vừa đi cho chóng đến xứ giàu có.

Họ đã đi nhiều ngày, lương thực mang theo đã cạn. Người anh càng trở nên bẳn gắt. Người em mệt nhoài không muốn bước nữa, nên lại càng bị người anh mắng chửi. Đến một đoạn đường hai anh em gặp một vặt ngáng đường: một cây gỗ, cây gỗ có phép lạ. Muốn trèo qua, nó nâng cao lên, thấy thế định chui nó lại hạ thấp xuống, muốn tránh hai bên nó lại dài ra vô tận. Thấy thế, người anh thầm nghĩ. “Cái cây này chắc là vật ngăn cách giữa thế giới nghèo khổ với xứ giàu có đây. Bên kia ắt là thế giới đầy sung sướng”. Nghĩ thế, hắn nóng lòng muốn vượt nhanh sang bên kia. Nhưng chẳng thể nào sang được. Người anh nghĩ rằng có lẽ do đứa em ngờ nghệch nên vướng chân mình trên đường đi tìm cuộc sống sung sướng. Hắn bèn nghĩ ra một kế. Lừa cho em chui qua cây gỗ, chắc chắn cây gỗ sẽ ẹp xuống, lúc ấy mình lấy đà nhảy qua chắc sẽ vượt được cây gỗ đến xứ giàu có kia. Khi đã thật giàu sang, ta hẵng quay lại đón em về nuôi, cũng chưa muộn”. Nó lại nghĩ. “à mà để nó lại, chưa chắc nó chịu ở đây, có chân chắc nó sẽ đi, lúc ấy biết đằng nào mà tìm. Chi bằng chém què chân để nó không còn đi xa nơi này, sau này đỡ mất công đi tìm”.

Nghĩ vậy nó lừa em:

Bây giờ anh em ta phải có mẹo mới qua được cây gỗ tai quái này mà sang với thế giới giàu sang bên kia. Anh bảo thế này này: em giả vờ chui qua cây để nó hạ thấp xuống, anh nhảy qua, sau đó, anh sẽ trèo sang lại, lúc ấy chắc cây nâng lên cản anh, em vội chui sang. Nghĩ vậy nhưng trong bụng người anh khó tin lừa được cây hai lần. Đằng nào cũng không thể sang được cả hai anh em, nên người anh quyết chí thực hiện âm mưu của nó. Chờ lúc em nó đang quỳ gối định chui qua và khi cây gỗ đã hạ dần xuống, người anh rút dao chém vào kheo chân em là đứt dây gân và lập tức hắn nhảy vọt sang. Nó đã đánh lừa được cả cây thần lẫn em nó, bây giờ đằng nào em nó cũng chẳng thể đi được nữa dù có cánh cho nó vượt được cây gỗ. Nghĩ vậy, nó một mình đi thẳng. Người anh đi mãi, đi mãi mới tới được một bản mường tơ rộng, đông đúc ngựa xe, người qua lại như đường nối dây. Hắn chắc mẩm: đã đến xứ ta mong muốn rồi đây. Vừa vặn cũng hết cái ăn và do phải nhịn đói mấy ngày, người anh hăm hở vào mường. Trước mắt có bao nhiêu người đang ngồi ăn uống rộn rịp, toàn những thức ăn ngon, lạ và có cả rượu thơm lừng nức mũi. Người anh mò đến. Nhưng đám người ngồi ăn không một lời mời chào. Ăn xong, thấy họ trả tiền rồi đi. Vừa lúc ấy, có người để ý đến hắn rồi hỏi hắn:

- Anh định dùng thứ gì? Sao chẳng thấy gọi? Ở đây có đủ loại chiều khách. Nếu không dùng gì thì mời anh đi chỗ khác cho chúng tôi bán hàng. “À hóa ra ở đây ăn phải trả tiền, mình cứ tưởng họ đang ăn cỗ cưới gì đó, chắc mẩm được xơi một bữa no nê!”. Nó nghĩ thế, thấy xấu hổ vì chẳng có đồng tiền nào mà trả. Nhưng khốn nỗi đói quá rồi, xấu hổ cũng chẳng được, nên nó nài xin:

- Thưa ông, tôi chẳng có tiền, nhưng tôi đã nhịn đói mấy ngày rồi, mong ông thương cho xin thức gì ăn tạm. Chủ hàng nói:

- Trông anh khỏe mạnh thế kia mà đi ăn mày!

Nói rồi ông ta sai lấy cho hắn một bát cơm thừa bảo nó ăn rồi đi cho nhanh. Ăn xong, thấy chẳng ai muốn nói chuyện với mình nữa nên hắn đi tiếp. Trên đường tấp nập, người gánh, người đội, người còng lưng kéo xe nặng nề, ăn mặc rách rưới. Cũng có người ăn mặc sang trọng, lượn đi thong thả hoặc ngồi ngựa, ngồi xe xúng xính. Hắn còn thấy một chỗ rất đông người, cái gì cũng đầy ắp thịt cá, gạo, ngô, quần áo, vải vóc, nhưng chẳng ai cho không hắn dù một ngụm nước lã. Hắn nghỉ. “Ở đây lắm của thế, mà cũng nhiều người nghèo rách rưới lại phải còng lưng, mưa nắng... vất vả chẳng kém ở quê mình, chỉ khác họ làm nhiều việc khác nhau”. Làm ruộng, làm nương ở làng hắn đã biết, vì thấy việc đó khó nhọc lắm hắn mới bỏ đi.

Cái lạ đập vào mắt hắn đầu tiên là việc xây nhà. Khác hẳn ở làng, ở đây người ta xây nhà không phải bằng gỗ, tre, mà bằng đất đá. Hắn mò đến xem, lạ mắt thật nhưng cũng vất vả lắm. Ngắm mãi đến trưa, thấy người ta nghỉ và bày cơm gói ra ăn tại chỗ. Hắn cũng đã đói rồi, thèm ăn mà chẳng ai mời.

Hắn lại phải xin ăn. Mọi người lấy làm lạ, hỏi hắn:

Anh khỏe thế không biết đi làm thuê làm mướn ăn, mà phải đi xin ăn ở bọn cực khổ như chúng tôi sao? Hay anh chưa tìm được việc làm? Cùng làm với bọn tôi đi, còn khối việc cho anh làm và chắc anh cũng tạm có bữa ăn đấy.

Được xẻ vài lưng cơm, hắn ngồi ăn chẳng nói, chẳng rằng. Ăn xong, thừa lúc họ nghỉ ngơi, hắn lại chuồn thẳng. Hắn lại tiếp tục cuộc hành khất, lang thang đây đó. Hàng ngày ngủ lúc hiên nhà người, lúc xó chợ, ngày thì lần mò đến xem, lúc thì chỗ cưa xẻ, đóng các thứ đồ dùng lạ mắt, lúc chỗ xay giã, làm bánh, lúc trên bến tấp nập bao nhiêu hàng hóa lên xuống giữa bến và thuyền, xe chở đủ loại… chỗ nào thoạt đầu hắn cũng được tạm bữa lưng bụng và được rủ làm việc... Nhưng hắn đều thấy công việc rất nặng nhọc, suốt ngày chẳng được nghỉ ngơi, hắn lại đi. Đi hết lượt, khi phải trở lại chỗ đã từng đến, hắn được người ta bảo:

Anh muốn ăn mày thế thì đến chợ mà ăn mày!

Đến chợ người ta lại bảo nó:

- Anh sức lực như thế chẳng lẽ hàng ngày chẳng kiếm nổi gánh củi đổi lấy bát gạo mà ăn!

Hắn nghĩ, chỉ còn cách đó thôi, xin ăn mãi chẳng ai cho đến lần thứ hai. Hắn đành giắt con dao cùn vào rừng hái củi, may sao cũng tạm qua được mấy ngày. Hắn chọn một gốc cây to ven rừng, có hốc lớn có thể tránh được mưa nắng rét buốt làm chỗ ở. Mỗi ngày một gánh củi ra chợ, đủ hai bữa lại trở về hốc cây nằm ngủ. Lúc đầu hắn thấy “thế này dễ chịu hơn, tự do hơn, muốn ngủ bao nhiêu cũng được, mỗi ngày gánh củi thì chẳng mất bao nhiêu sức lắm”.

Nhưng mãi về sau, tĩnh tâm nghĩ lại: “Mình thật ngu dại, nếu chỉ để hàng ngày hái củi thì mình tội gì mà phải đến đây. Cũng phải nai lưng mới có cái ăn, thà rằng ở bản mà chịu khó phát nương cũng đủ sống mặc dù không thật sung sướng lắm! Hắn bắt đầu tiếc, và đột nhiên, hắn nhớ đến em. “Giá hai anh em ở nhà gắng mà làm nương như mọi người trong bản, thì chẳng đến nỗi phải xa lìa nhau mà vẫn cực thân thế này!”. Hắn bắt đầu than thân trách phận, oán trách thân mình, hối hận đã chém em và bỏ em một mình què đau. Giá còn anh còn em chung sức chắc chẳng đến nỗi cực nhục như thế này! Hắn ân hận thổn thức khóc. Hắn cầu mong trời đất, thần linh tha thứ lỗi lầm của hắn và nương nhẹ mở đường sống cho hắn. Hắn hỏi thần linh rằng, sao có người sống sung sướng thế, mà số mệnh hắn thế nào mà cực nhục làm vậy?

Sự hối hận, than khóc của anh ta làm cảm lòng thương của người con gái vua Thủy Tề đang đi đến bên gốc cây này. Bỗng anh chàng cảm thấy ngủ mê. Bừng mắt tỉnh dậy, anh ta thấy mình đang sống trong một lâu đài bằng thủy tinh lộng lẫy mà anh ta chưa bao giờ nghĩ tới. Một cô gái kiều diễm, xinh đẹp tuyệt trần chưa từng thấy trong óc tưởng tượng của anh đã đến với anh ta và nói:

- Nơi đây là chốn thủy cung, em là công chúa duy nhất của vua Thủy Tề, cảm thấy lòng hối hận chân thành của chàng, em quyết làm vợ chàng, để giúp chàng đạt được lòng mong ước phú quý, giàu sang. Ở trên trần gian chàng đã hằng cực khổ quá rồi, ở đây, tại chốn thủy cung này, chàng chẳng có việc gì phải làm cả, tất cả đều thế. Cứ việc nhởn nhơ rong chơi khắp chốn, cái ăn tự đến, không thiếu thứ gì.

Lại có em luôn bên cạnh, chắc chàng phải sung sướng thoả ước vọng của mình bấy lâu nay.

Đó là cuộc sống hết sức lý trưởng, toại nguyện đối với một kẻ lười biếng mà lại ham muốn giàu sang, phú quý. Chẳng bao lâu anh đã có một đứa con trai cùng công chúa Thủy Tề.

Bỗng nhiên có lệnh của thiên đình mời các vua Thủy Tề, vua mặt đất mọi phương đến dự yến tiệc chúc thọ vua Then - vua của tất cả các vua trong ba thế giới: Trời, Đất, Nước. Dạo đó, vua Thủy Tề ốm mệt, nên cử phò mã là anh chàng lười đi thay. Lúc đầu anh ta ngần ngừ không muốn xa vợ con, không muốn vất vả dọc đường. Nhưng sau biết thiên đình là thế giới kỳ lạ, ít người có dịp được thấy, chốn đó còn giàu sang phú quý, huy hoàng gấp bội so với thủy cung chật hẹp, lúc nào cũng cảm thấy như bị nhốt trong lồng thủy tinh này, thế là anh chàng vui vẻ nhận lời.

Đã thấy anh ta thật sự hối hận mà thương, nhưng cũng chưa dám tin anh ta hoàn toàn hối cải, nên trước lúc chia tay, công chúa dặn chồng:

- Trên thiên giới sẽ thấy nhiều điều kỳ thú hơn thủy cung gấp bội, nhưng mong chàng đừng quên nơi đã cứu chàng thoát khỏi nỗi cực nhọc ở mặt đất.

Trên thiên cũng có hằng hà sa số những nàng tiên tuyệt đẹp những mong chàng đừng sớm quên người vợ đã đồng cảm với hoàn cảnh cực nhọc của chàng. Chớ quên một hòn máu chung của chúng ta, đứa con trai xinh đẹp của chúng ta đấy. Vừa nói xong, một con rồng xanh đã cõng anh chàng bay vụt lên thiên đường. Trước mắt anh chàng là những danh lam thắng cảnh kỳ thú cảnh tấp nập rộn rịp của ngày đại lễ và biết bao là nàng tiên xinh đẹp. Anh chàng từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, hấp dẫn đến mê mẩn tâm hồn. Hình ảnh vợ con và thủy cung đã bay biến từ lâu.

Cuối cùng hắn mê mẩn chạy theo các cô tiên và một cô tiên đã sớm kết hôn với anh chàng si tình này. Hắn đã nhanh chóng hằng ngày cùng vợ tiên ngồi xe du ngoạn khắp nơi, sóng đôi cùng vợ tiên, thăm các vườn tiên, thưởng thức các hoa trái lạ của nhà trời cho phép. Hắn không sao biết có thời gian. hưng ở thủy cung, công chúa Thủy Tề thì đếm từng khắc một. Đằng đẵng ba năm trời chẳng thấy chồng quay về, nàng hiểu ngay những điều phòng ngừa trước của mình đã đúng sự thật và không còn cách cứu chữa nữa, chỉ còn cách bế con lên trời để thức tỉnh tình nghĩa vợ chồng và cha con trong chàng mà thôi.

Nàng bế con đi và dễ dàng đến được đất Then. Một hôm, vào lúc anh chàng sóng đôi vợ tiên trời dạo ngắm vườn đào, mẹ con công chúa Thủy Tề chạy đến đón đường anh ta. Thế rồi diển ra cuộc chạm trán giữa nàng tiên trời, nàng công chúa Thủy Tề và anh chàng phụ bạc có lòng ham muốn vô đáy kia. Cuối cùng anh ta chỉ có cách vô liêm sỉ là chối từ mọi kỷ niệm và những lời khuyên ân tình sâu nặng của vợ. hận thấy tư cách quá tồi tệ của anh chàng, nàng tiên khinh bỉ bỏ đi. Còn hai vợ chồng giằng co mãi. Công chúa Thủy Tề nói:

Chẳng nhận vợ cũng được, nhưng hãy nhận lấy con!

Nhưng anh chàng cũng từ chối nốt. Người vợ nói:

Nếu sợ phải nuôi con vất vả mà không nhận lấy con, thì ít ra hãy cầm lấy tay con, cho nó được chút hơi tay bố, bõ công tìm chốn thủy cung đến tận thiên giới tìm cha!

Anh chàng vẫn một mực từ chối.

Người gác cổng nhà trời thấy vậy nói:

- Thời gian gặp nhau đã hết, sao hai người ngoại giới này vẫn còn ở đây Ra ngay!

Nói rồi người gác cổng Then đẩy ba vợ chồng, cha con ra khỏi cổng và đóng sầm cửa lại. Ra ngoài rồi chàng ta vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn đuổi mẹ con nguây nguẩy không chịu nhận. Người vợ kéo chồng ra đến một gốc cây to, cạnh đó có một hồ xanh thăm thẳm. Người vợ cố ý, muốn gợi cái gốc cây trong đó với cây dao cùn để nhắc nhở anh chàng nhớ lại thuở hàn vi của anh ta. Nhưng hắn cố ý không chịu nhớ ra mà vẫn khăng khăng đòi quay về nhà trời.

Không còn cách nào nữa, người vợ thu lại mọi phép bùa, hóa anh chàng trở lại nguyên hình trong bộ áo rách với con dao cùn giắt lưng đang ngồi rũ bên gốc cây ngày nào. Rồi nàng bế con từ từ bước xuống hồ nước bên cạnh, phần thân dưới đã biến thành đuôi thuồng luồng quẫy quẫy tung sóng cuộn đập vào bờ, xô đến gốc cây hắn ngồi. Hắn giật bắn mình thấy mẹ con thuồng luồng vẫy nước như muốn lôi hắn xuống hồ. Sợ quá hắn vội trèo lên cây, nhưng run quá lại trượt tụt xuống kêu “phạt phạt” dọc thân cây. Tới đất, sóng nước lại vỗ đến, hắn lại trèo rồi tụt xuống, lại trèo. Cứ như thế không biết bao nhiêu lần “plạt plạt” (trượt trượt) lặp đi lặp lại. Dần dần anh chàng gầy tóp đi, biến hình thành thân con nhái với cẳng chân cẳng tay dài ngoằng và luôn mồm kêu “phạt phạt, phạt phạt”...

Lại nói chuyện người em. Đau đớn bất ngờ trước sự tàn ác của người anh, cái kheo chân đứt gân chảy máu đầm đìa, cộng với sự thấm mệt trên mấy ngày đường luôn chạy theo anh, người em ngất làm. Tỉnh dậy, cơn đau, cơn đói ập đến. Ngoái lại bên phải anh ta nhìn thấy một cái cây vừa tầm với, toàn thân chỉ có một chiếc lá to bằng bàn tay, như một hy vọng cuối cùng, tự nhiên với tay ngắt chiếc lá đó. Ngắt được anh ta đưa lên miệng nhá cho đỡ khát. Lạ thay, anh thấy tỉnh người, hết đói, hết mệt và chỉ cảm thấy đau nhói ở chân. Một lúc hết đau, gân như nối liền lại, vết sẹo tự nhiên lành lặn.

Còn một ít lá trong tay, anh nói thầm: “Đây là lá quý đấy: “năm da lọk” nước thuốc thần cứu người chết sống lại. Anh liền cất kỹ vào túi, lấy gai rong cài lại. Tự dưng anh thấy người lớn lên hẳn, trở thành chàng trai thực thụ Anh muốn đi tiếp. Cái cây kỳ lạ kia không còn cản bước anh nữa mà xoay đi một quãng sang phía tay phải, mở ra một lối chếch về tay trái cho anh đi. Chàng trai nghĩ. “Mình sẽ chẳng đi theo đường người anh đã đi. Đó là đường ác. Cái cây này hẳn có ý ngăn ta đi theo đường ác đó!”.

Anh hăm hở đi theo đường của mình. Bắt gặp một ngọn suối chảy xuống núi về mãi phía xa, anh lần theo. Đi một quãng xa, anh gặp một con chó nằm chết dưới một gốc cây to, phần mông chó bị cắn xé nham nhở trơ xương, nhưng phần đầu gần như nguyên vẹn. Chàng trai thương hại, ngó đến lá đã cứu mình, anh lôi ra thử nhá một miếng phun vào con chó. Con chó vọt đứng dậy nguyên vẹn, con chó vẫy đuôi vui mừng quấn quít lấy anh. Từ đó anh có con chó làm bạn đường. Đi mãi một quãng xa nữa, anh lại gặp một con gà. Hình như bị cáo bắt đến đây, toàn thân gà đã bị róc hết thịt chỉ còn nắm xương và lông. Anh nhá một miếng lá khác phun vào nắm lông và xương gà. Một con gà sống đẹp vỗ cánh gáy vang rồi bay lên đậu trên vai anh. Anh cùng chó, gà đi tiếp. Tới một bản nhỏ, thấy tiêu điều vắng vẻ, khi đến gần anh nghe tiếng người rên trên nhà. Anh bước lên nhà, thấy cả nhà nằm ngổn ngang chờ chết, lác đác có vài người chết. Tất cả các nhà đều có hiện tượng ấy. Bản này bị dịch tả hoành hành, tất cả đều ốm nên chẳng ai chôn cất người chết nữa. Để cứu dân bản, anh lấy chiếc lá cắn một miếng, nhá nhá rồi nhổ ra cái bát to, hòa thêm nước cho người còn sống uống. Mọi người khỏi bệnh. Anh lại hòa miếng khác, rẩy lên những người đã chết, họ sống cả lại. Dân bản xem anh như vị cứu anh và dành cho anh những lời ca tụng đẹp nhất. Họ còn muốn để anh làm. Tạo bản và tìm vợ cho anh. Nhưng một cụ già nhất bản thấy anh là một trang tuấn tú khác thường nên nói với anh và cả bản:

- Bản ta cảm ơn anh đã cứu sống. Ân nghĩa ấy, biết lấy gì đền đáp cho được! Ta quý mến muôn vàn con người này. Nhưng bản ta nhỏ, mà chàng đây là một trang tuấn kiệt. Chàng phải làm chủ cả một mường to lớn mới xứng. Chàng còn phải cứu vớt tất cả thiên hạ khỏi bệnh tật và đói nghèo! Phải xa chàng chúng ta buồn nhớ nhưng để chàng giúp ích được cả toàn thiên hạ, thì hẳn chúng ta đều vui lòng.

Thế là cả bản chia tay lưu luyến với chàng. Họ tiễn chàng ra đi. Chàng đi qua nhiều sông suối và một hôm đến chỗ cửa sông tạo nên một hồ rộng mênh mông. Trên bờ là một thành phố to lớn, rầm rập ngựa xe. Nhưng người nào cũng có bộ mặt người đưa đám. Khắp chốn người ta xả thịt trâu, bò nấu nướng tất bật. Chẳng ai nói với nhau. Lấy làm lạ, chàng hỏi những người đang bận rộn kia:

Chẳng may mường ta có việc gì mà thịt lắm trâu bò làm vậy. Đã lắm thịt nhiều xôi mà ai nấy lại rầu rĩ thế. Họ ngạc nhiên hỏi lại anh:

- Chẳng lẽ anh lại không biết sao? Một ngày tang tóc của cả mường ta đây. Cô con gái duy nhất và muôn vàn xinh đẹp, là hy vọng của nhà Tạo và cả mường ta đã chết mấy ngày nay. Hôm nay là ngày đưa đám đấy!

Mọi người như muốn bật khóc thì người ấy nói hết. Chàng nghĩ, cái chết của người con gái này làm cả mường buồn đau, chắc hẳn đây là người tốt, ta nên chữa giúp. Không biết cái lá của ta, lần này còn nghiệm không? Chàng rẽ đám đông đến chỗ nhà Tạo. Vừa lúc, người ta khiêng thi hài “công chúa” xuống nhà để mang đi chôn.

Anh mạnh dạn đón đường đám đưa tang và nói to:

- Thưa nhà Tạo, thưa tất cả mọi người. Thấy đám tang đau thương này, tôi không thể nào ngồi yên được! Xin nhà Tạo và mọi người cho phép tôi thử chữa lần cuối cùng xem sao, may ra được chăng?

Có người nói:

- Đã chết được mấy ngày, còn nói chữa là thế nào?

Chàng đáp:

- Tôi đã nói là xin thử, còn nước còn tát. Còn thi hài đó còn thử xem! Tôi đã từng chữa cho con chó con gà mục xương sống lại, cứu cả một làng bệnh dịch qua khỏi. Thế nhưng, với bậc quyền quý thì tôi chưa dám cả quyết, nên mới nói là thử xem sao!

Nắp quan tài mở ra. Khuôn mặt xinh đẹp của công chúa đã trắng bệch, đôi môi nhợt mím chặt.

Chàng vội nhá miếng lá quý rồi cố cạy môi nàng nhét miếng lá đã nhá vào... Và lạ thay, chỉ lát sau, đôi môi động đậy. Tiếng thở nhè nhẹ, mắt nhấp nháy rồi mở to, tiếng kêu yếu ớt “mẹ ơi!” thoát ra từ miệng nàng. Mọi người xúm lại vực nàng dậy và bế ra khỏi quan tài lên nhà. Ông Tạo tìm cánh tay chàng kéo lên cung điện. Công chúa sống lại, cả mường mừng vui.

Ông Tạo già sung sướng, gả cô gái ấy cho chàng và truyền ngôi Tạo cho chàng. Chàng sống trong giàu sang phú quý như một bậc Tạo và lại được cả dân mường tin yêu. Chính lúc này làm cho chàng chạnh lòng nhớ tới người anh. Chàng quyết đi tìm anh bằng được. Người ta chỉ cho chàng cái hốc cây mà người anh từng dùng làm nhà tránh mưa nắng. Khi đến hốc cây, chàng nhìn thấy con dao cùn. Chàng thốt lên:

- Anh ơi! Nay anh ở nơi nào? Có tiếng đáp:

- Plạt plạt! Plạt-lạt-lạt!

Nhìn lên cây chàng thấy một con chẫu chàng nhỏ gầy rạc, cẳng tay, cẳng chân cố bám lấy thân cây xù xì, mồm không ngớt “trượt, trượt”. Nhưng chẳng may chiếc lá thần không còn nữa. Người em nhìn chẫu chàng một lúc rồi quay về.

CHÀNG NHO SĨ VÀ CÓC THẦN

(Dân tộc Tày)

 

Ngày xưa tại bản mường có một chàng nho sĩ nghèo nhưng rất chăm học. Ban ngày chàng vào rừng hái củi đem bán để lấy tiền mua gạo và mua dầu đèn. Ban đêm chàng cặm cụi đọc sách cho đến lúc gà hàng xóm gáy lần thứ hai mới đi ngủ.

Nhà cửa chàng chỉ là một túp lều, tài sản chỉ có một con dao quắm và một chồng sách. Làm bạn với chàng chỉ có một con cóc tía, những buổi chàng học khuya con cóc nhảy ra quanh quẩn ở dưới chân chàng, đớp gọn những con muỗi bay vo ve. Thấy cóc quấn quít bên mình, chàng nho sĩ rất mến cóc, mỗi bữa ăn, chàng không bao giờ quên dành cho cóc một miếng cơm. Những lúc lên rừng hái củi chàng thường bắt cào cào châu chấu, hay con bọ ngựa đem về cho cóc ăn thêm. Cóc được chăm nom nên ngày càng lớn.

Chàng nho sĩ rất sáng dạ, trong sáu năm dùi mài đèn sách, chàng học thuộc gần hết mười lăm pho sách quí của các bậc thánh hiền. Thấy chàng học giỏi, người làng thầm mong cho chàng sau này sẽ đỗ trạng nguyên.

Năm ấy, nhà vua mở khoa thi chọn trạng, sĩ tử khắp các phương trời đều tấp nập về kinh dự thi. Thấy chàng nho sĩ vào kinh, cóc tía xin được đi theo. Sáng hôm sau, chàng cùng cóc tía lên đường. Ông chủ đi đến đâu, cóc tía nhảy bước một đi theo kịp đến đó. Đi mãi, đi mãi, một ngày kia, hai thầy trò cóc đến một cái lều bỏ không ở ven rừng vắng vẻ. Chàng nho sĩ thấy trong lều có một người chết, bên cạnh có một gói sách và một bọc quần áo. Chàng đoán chắc người này cũng là một sĩ tử lên kinh dự thi, sờ vào người thấy mạch còn đập nhè nhẹ, chàng nho sĩ cố loay hoay tìm cách cứu chữa. Thấy chàng có nhiệt tâm, cóc liền ghé tai nói nhỏ :

- Ông ơi ! Con xem bộ nó là người không có thủy chung gì cả, hạng này nếu không phải là gian phi thì cũng là kẻ bội bạc, cứu nó làm gì !

Chàng nho sĩ nhìn cóc rồi nghiêm nghị nói :

- Gặp kẻ hoạn nạn mà không cứu chữa, không phải là người quân tử, dù có khó nhọc bằng mười, ta cũng không thể bỏ được. Nếu nó chưa đến ngày tận số mà được sống lại thì ta lại có thêm một người bạn đường càng hay chứ sao...

Thấy chàng nói vậy, cóc tía bèn bảo :

- Nếu ông đã quyết thì ông cứ cứu nó, còn thuốc thì ông không phải chạy tìm đâu cả. Cóc có hòn ngọc cải tử hoàn sinh đây.

Nói đến đây cóc liền nhả ra một viên ngọc trong sáng như kim cương, hình dáng tựa trứng chim. Cóc nói :

- Ông hãy để viên ngọc này vào mũi người chết thì người chết lập tức sẽ sống lại.

Chàng nho sĩ nhận lấy viên ngọc rồi làm y như lời. Quả nhiên được một lúc người ấy dần dần hồi tỉnh. Chàng nho sĩ mừng quá đến gần đỡ người lạ ngồi dậy hỏi họ tên, quê quán rồi kết làm bạn. Chàng mở cơm nắm mời bạn ăn rồi cùng nhau lên đường.

Hai người và cóc tía đi thêm ba ngày nữa thì tới kinh thành. Đến kinh thành, cóc bảo chàng cho mình đi dạo một lượt đến chiều sẽ về. Chàng nho sĩ và người bạn ngồi ở quán ăn uống nói chuyện trò vui vẻ. Người bạn bỗng hỏi :
- Hôm nọ, tôi đi đường xa bị cảm nặng, các bạn đồng hành của tôi bỏ tôi nằm lại ở lều. Nếu không có anh ra tay cứu chữa thì tôi đã hóa ra ma mất rồi. Công ơn của anh sau này tôi xin đền đáp. Không biết anh có thuốc linh đan hay phép thuật gì mà cứu sống được tôi vậy ?
Chàng nho sĩ mỉm cười móc túi lấy viên ngọc thật thà nói :

- Tôi có viên ngọc cải tử hoàn sinh này đây, tôi chỉ cần đặt viên ngọc này và mũi thì người chết dù tắt thở đã ba ngày cũng sống lại tức khắc.

Nghe ân nhân nói, hắn tỏ bộ lễ độ xin được cầm viên ngọc xem một lúc. Khi cầm ngọc trong tay hắn làm bộ mân mê, ngắm nghía rồi lừa khi ân nhân sơ ý bỏ vào túi, vơ vội lấy hành lý, chạy ù ra đường phố, trà trộn vào đám đông. Mất ngọc, chàng nho sĩ đuổi theo kêu la ầm ĩ, nhưng hắn đã nhanh chân lẩn vào các ngõ ngách của kinh thành còn tìm làm sao được, đành trở lại quán ăn thẫn thờ ngồi chờ cóc. Một lúc lâu, cóc trở về. Cóc giẫm chân nói :

- Con đã bảo ông đừng cứu chữa cho nó mà, nếu nó là người tốt thì các bạn cùng đường chắc không bỏ nó nằm chết ở giữa nơi rừng vắng ấy. Nhưng sớm muộn, viên ngọc đó sẽ trở về thôi, bây giờ ông hãy mau mau vào tâu vua để sau này nhà vua xét xử hoàn lại cho ta viên ngọc.

Nghe cóc nói, chàng nho sĩ vào triều tâu với nhà vua và nói rõ đặc tính của viên ngọc cho vua nghe. Vua hứa là sẽ xét tìm hộ chàng viên ngọc và bắt phạt kẻ gian phi. Đêm hôm ấy, công chúa con vua tự nhiên ngã lăn xuống giường chết ngất đi. Nhà vua và hoàng hậu vội gọi thầy thuốc tới cứu chữa, sau khi thăm bệnh, thầy thuốc bảo là công chúa bị bệnh nặng không thể cứu chữa được. Hoàng hậu lăn lóc kêu than, nước mắt trào tuôn như suối, nhà vua ngồi nhìn con gái sắp đến lúc qua đời, ruột gan rối tựa bòng bong. Chợt nhà vua nhớ tới viên ngọc cải tử hoàn sinh của chàng nho sĩ bị mất cắp lúc chiều, bèn ra bảng tìm danh y và thông báo khắp kinh thành : “Ai cứu sống công chúa sẽ được tuyển làm phò mã”. Tin đó tới tai cóc tía. Cóc tía nói với chủ :

- Hay lắm ! Đây là dịp tốt để ta lấy lại viên ngọc và tìm ra kẻ cắp, và đây cũng là cơ hội hiếm có để ông làm nên. Sáng mai tên ăn cắp ngọc đội lốt “thầy danh y” sẽ vào cung chữa bệnh cho công chúa. Ông hãy tìm cách xin vào đi lẫn theo đám quan triều đình vào cung thăm công chúa. Khi nào thấy ai đem viên ngọc ra thì ông lập tức đến tâu vua xin cho bắt giam kẻ đó lại.

Chàng nho sĩ nghe theo. Sáng hôm sau, chàng đi lẫn vào hàng các quan văn võ cùng vào cung thăm công chúa. Cóc tía cũng nhảy bước một đi xen vào trong hàng.

Giữa lúc ấy lính canh cổng dẫn vào cung một người tự xưng là danh y có thể cứu sống được công chúa trong khoảnh khắc. Chàng nho sĩ nhìn kỹ, nhận ra đúng là kẻ ăn cắp viên ngọc của mình hôm trước, chàng lặng thinh theo sát nó.

Không chậm trễ, “danh y” rút ở trong túi ra một viên ngọc làm phép hoa chân múa tay đọc thần chú rồi đặt viên ngọc vào mũi công chúa. Nhưng vô hiệu, công chúa vẫn nằm yên, lạnh ngắt. Hắn lúng túng, xoay đi trở lại viên ngọc nhiều lần. Cuối cùng vẫn không sao làm cho công chúa sống lại. Vua và hoàng hậu vô cùng sốt ruột. Giữa lúc đó, chàng nho sĩ rẽ đám đông tiến lại trước mặt nhà vua, chàng vừa nói vừa chỉ vào mặt “danh y” :

- Tâu bệ hạ, trước hết xin bệ hạ hãy cho bắt giam tên này lại.

Nhà vua sực nhớ tới lời thưa kiện hôm qua, bèn ra lệnh bắt giữ “danh y” lại. Chàng nho sĩ cầm lấy viên ngọc rồi chỉ vào cóc - bây giờ đã nằm gọn trên bàn tay của chàng - giảng giải cho mọi người nghe :

- Đây là viên ngọc cải tử hoàn sinh và đây là cóc thần. Chỉ có cóc thần và tôi mới dùng được viên ngọc này để cứu sống người chết. Hôm qua tên kia đã cướp giật lấy viên ngọc của tôi. Nhưng hắn không biết rằng hắn không đời nào sử dụng được viên ngọc nếu không có sự đồng ý của cóc thần. Nhờ ơn nhà vua, nay đã lấy lại được viên ngọc, tôi sẽ xin cứu sống công chúa.

Nhà vua hứa hẹn :

- Tốt lắm ! Nếu nhà ngươi cứu sống được con ta thì ta quyết giữ những lời đã hứa.

Chàng nho sĩ nhẹ tay đặt viên ngọc vào mũi công chúa. Quả nhiên, công chúa bỗng cựa mình và dần dần hồi tỉnh. Nhà vua và các quan reo mừng. Hoàng hậu nước mắt chảy ròng ròng cúi xuống ôm chầm lấy công chúa. Công chúa tủm tỉm cười, nhìn khắp lượt mọi người xung quanh. Chàng nho sĩ lấy lại viên ngọc bỏ vào mồm cóc tía. Cóc tía nuốt ngay vào bụng.

Thấy công chúa đã được cứu sống, nhà vua bèn nhận chàng nho sĩ làm phò mã. Tiệc cưới được tổ chức ngay chiều hôm đó. Và cũng trong chiều hôm đó nhà vua sai đao phủ dẫn thằng ăn cắp ngọc ra pháp trường.

Hai hôm sau, cuộc thi văn bắt đầu, chàng nho sĩ không quên bước vào trường thi, công chúa chúc cho chồng đỗ cao. Chàng đã làm được bài văn hay nhất trong đám sĩ tử và được các quan chung khảo chọn làm trạng nguyên.

Trạng lại được toàn thể triều thần tôn lên giữ chức phó tể tướng.
Chàng nho sĩ bắt đầu đi vào cuộc đời vinh hiển. Phó tể tướng lại càng yêu mến cóc tía và giữ con cóc tía luôn bên cạnh mình.

Sau này cóc tía còn giúp chàng dẹp được giặc, đem lại cho muôn dân một cuộc sống thái bình.

 

CÂU ĐỐ CỦA DÂN TỘC THÁI

 

- Liếm ra ngoài liếm vào trong

Đau bụng nằm vào nơi xó cửa?

(Chiếc chổi).

 

- Không gõ cũng kêu?

(Trời sấm).

 

- Gà mái to năm cánh một chân?

(Quả sổ).

 

- Hôn hoa rồi hôn lá

Hôn lá rồi hôn cành?

(Con bướm)

 

 

- Quả gì tím như chàm?

(Mák chóm) [3]

Mák chóm - Một thứ quả rừng khi chín thì màu đen tím to bằng quả xoan mùi thơm người Thái thường đem trộn ăn với cơm).

 

- Càng đập càng tròn

Càng gẩy càng béo?

(Đập bông và bật bông).

 

- Tròn lông lốc anh ơi

Tròn be bé anh ơi

Ngủ cạnh người thương ngủ không được bởi nó

Hát cạnh người thương hát không hay bởi nó?

(Củ khoai sọ nướng)

 

CÂU ĐỐ CỦA NGƯỜI MƯỜNG

 

Bốn cái đạp xuống đất (4 chân)

Hai cái hướng lên trời (hai cái sừng)

Hai cái bơi phạch phạch (hai tai)

Một cái đi theo sau (cái đuôi)

( Con trâu)

 

Trò chơi: Đố lá (Dân tộc Mường)

Cách chơi như sau:

Khi đã tìm được bạn cùng chơi, mỗi em mang theo một túi nhảng hay cái rổ đựng nhỏ… Chia nhau mỗi người một ngả theo các bờ dậu hay vào vườn. Trên đường đi gặp mỗi thứ cây hái 1-2 lá cho vào nhảng, rổ… Vặt được càng nhiều thứ lá cây của nhiều loại cây khác nhau thì khả năng chiến thắng của các em càng cao. Khi lượng lá cây đã nhiều, thời gian đã cảm thấy đủ, các em tự động hò nhau về ngồi lại và bắt đầu so.

Lần lượt các em đưa ra từng lá cây trong rổ của mình đố xem bạn kia có không, nếu bạn cũng có, thứ lá đó sẽ phải vứt đi không tính, nếu bạn kia không có thứ lá đó, nó sẽ được giữ lại. Cứ lần lượt như vậy sau khi so hết lá trong rổ mỗi người, các em đếm lại xem trong rổ mình có bao nhiêu thứ lá mà bạn kia không có. Em nào có nhiều thứ lá cây lạ hơn thì sẽ chiến thắng và sẽ được búng vào tai em thua, số lần búng bằng số lá hơn. Em thua cũng được búng vào tai em thắng, số lần búng cũng tương đương số lá mình có lại trong rổ. Trường hợp có nhiều em tham gia chơi, em thắng có số lá nhiều hơn sẽ được búng vào em có số lá thấp nhất.

 

Trò chơi: Ném còn

* Cách chơi:
- Dùng một quả còn nhỏ là một túi vải bên trong chứa một vật nặng khoảng 200gr (có thể cho đất cát vào bên trong). Quả còn có gắn đuôi là một dải lụa nhiều màu sắc.
- Ở giữa sân dựng một cây cọc cao khoảng 3m trở lên (tùy theo độ tuổi, thể hình người chơi). Trên ngọn cây có treo một vòng tròn đường kính khoảng 35cm.
- Người chơi được chia làm hai nhóm đứng đối diện nhau, cách cột khoảng 7m trở lên (tùy theo đối tượng người chơi). Mỗi nhóm cử từng người lần lượt ném quả còn, sao cho quả còn chui qua vòng treo trên ngọn cây là được điểm. Khi ném, người chơi cầm trái còn quay quay trên đầu lấy đà, nhắm kỹ và ném. Bên đối phương sẽ bắt còn của đội bạn ném qua nếu bắt dược cũng tính điểm. Sau khi có còn trong tay bên đối phương ném còn qua vòng để lấy điểm.
- Trò chơi này thường phổ biến ở miền Bắc.

 

 

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 37
Hôm qua : 57
Tháng 12 : 685
Năm 2019 : 14.752